Close

About Viet SEO


WEB DESIGN & GOOGLE OPTIMIZATION

T: +84 917 212 969

Menu

Search

* Mua hoặc thuê tên miền vannhua.batdongsanninhbinh.net, vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Nhựa: (84-28) 3855 2849



Nhựa là gì ? Những điều bạn cần biết về hạt nhựa

Trong công nghiệp dân dụng, nhựa PVC được dùng để cách nhiệt, làm nội thất tàu thuyền, bàn gia công công nghiệp, trần thả, trần phẳng, làm cửa, vách ngăn,…

    Chế tạo đồ chơi thể thao và ứng dụng trong y tế

Nhựa PVC được sử dụng nhiều trong việc tạo các sàn chống trượt, dây nhảy trong suốt, các thảm thể thao, các ba lô cao cấp có lớp nhựa dẻo PVC. Trong y tế, nhựa PVC được sử dụng làm các dụng cụ như túi xách tĩnh mạch, túi đựng máu, ống hô hấp, ống thông, thiết bị lọc máu,…

Nhựa PVC có độc không?

Nhựa PVC chứa khá nhiều hóa chất độc hại, trong đó có chì và DEHP – một loại phthalate được sử dụng làm chất làm mềm dẻo.

Những hóa chất này làm gián đoạn hệ thống nội tiết của động vật hoang dã, gây ung thư tinh hoàn, biến dạng sinh dục, số lượng tinh trùng thấp và vô sinh ở một số loài động vật. Và có một số ý kiến cho rằng phthalate gây ra những tác hại tương tự ở người.

Tuy nhiên PVC vẫn được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm tiêu dùng trên thế giới, chỉ sau polyethylene, do có chi phí rẻ, tính chất dẻo dai, bền và trong suốt.
Một số lưu ý khi sử dụng nhựa PVC

Chắc rằng đến đây bạn đã có thể hiểu rõ hơn về nhựa PVC và ứng dụng tuyệt vời của nó trong công nghiệp cũng như đời sống hàng ngày.

Tuy nhiên, dù đã được chứng minh khoa học là sản phẩm an toàn với con người nhưng vẫn có một số ý kiến cho rằng nhựa PVC trong sản xuất thường được thêm một số chất phụ gia độc hại. Hơn nữa, dưới tác động của nhiệt độ, nhựa PVC có thể hòa tan và thẩm thấu vào thức ăn.

Vì thế bạn nên chú ý:

    Hạn chế tối đa mua đồ chơi cho trẻ nhỏ có chất liệu nhựa PVC vì trẻ. Tuyệt đối không để bé ngậm các loại đồ chơi nhựa, đặc biệt là nhựa PVC vì rất dễ ảnh hưởng đến sức khỏe.
    Không dùng màng PVC bọc thực phẩm rồi cho vào lò vi sóng để hâm nóng thức ăn.
    Không dùng vật dụng từ nhựa PVC để đựng thực phẩm khi còn nóng.

Hàng ngày, một người nhất định phải nhìn và sử dụng đồ nhựa. Bạn có thể tìm thấy nhựa trong nhà, trong môi trường và trong kinh doanh. Một lý do khiến nhựa được sử dụng rộng rãi là do nó có khả năng được tạo ra theo nhiều cách khác nhau.

Không phải tất cả các loại nhựa đều giống nhau, và trên thực tế, rất có thể bạn chỉ gặp phải một lượng nhựa đã chọn.. Vậy hãy cùng CÔNG TY TNHH HÓA CHẤT SUNMAXX VINA  đi tìm hiểu xem nhựa là gì? và nhựa làm từ gì ? bạn nhé

1. Thuật ngữ về nhựa (Nhựa là gì ?).

Nhựa (chất dẻo) hay tiếng anh gọi là plastic, nhựa plastic là các hợp chất cao phân tử.



    Thuật ngữ ''plastic'' có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ''plastikos'', có nghĩa là phù hợp để đúc. Điều này đề cập đến tính linh hoạt của vật liệu hoặc độ dẻo trong quá trình sản xuất. Nhựa cho phép đúc, ép hoặc nén thành nhiều hình dạng khác nhau. Từ dạng màng mỏng cho đến dạng sợi, tấm, ống, chai, hộp… và nhiều hơn nữa.
    
    Hầu hết các loại nhựa đều có chứa các polyme hữu cơ. Các thành phần của nhựa giống như gỗ, giấy hoặc len, các nguyên liệu thô… Để sản xuất nhựa là các sản phẩm tự nhiên như: Cellulose, than đá, khí tự nhiên, muối và dĩ nhiên là dầu thô.
    
    Nhựa đã và đang trở thành loại nguyên vật liệu hiện đại. Được sử dụng rộng rãi để thay thế các nguồn nguyên vật liệu từ vải, gỗ, da, kim loại, thủy tinh… Bởi đặc tính của nhựa là có độ bền cao, nhẹm khó vỡ và nhiều màu sắc đẹp.
    
    Hơn 50% các chất dẻo chất hữu cơ, hợp chất vô cơ khác (chất phụ gia từ 0% đối với các polymer)… Đều được ứng dụng trong ngành điện tử. Ngày nay người ta thường trộn thêm các chất phụ gia khi sản xuất. Nhằm làm cải tiến hiệu suất (làm tăng độ dai, độ cứng, độ mềm, độ dẻo).
    
    Hoặc làm giảm chi phí sản xuất (độn các vật liệu rẻ tiền để làm cho sản phẩm rẻ hơn trên một đơn vị trọng lượng) ra.
    
    Người ta còn độn thêm các chất chống cháy để làm giảm tính cháy của vật liệu. Các chất độn thường là các loại khoáng như đá phấn. Trong đó phẩm màu là các chất phụ gia phổ biến nhất. Mặc dù trọng lượng của chúng chiếm tỉ lệ nhỏ (phẩm màu có dạng gạt,dạng phấn,dạng lỏng.)
    
Hạt nhựa là cơ sở chính của tất cả các loại nhựa. Tuy nhiên, thông qua các quá trình khác nhau, các loại nhựa này có thể được biến đổi để phù hợp với các nhu cầu cụ thể. Đầu tiên, nhựa được tạo ra bằng nhiệt làm nứt các hydrocacbon; đây được gọi là quá trình bẻ khóa.

Các phân tử lớn hơn của nhựa được chia thành các hydrocacbon khác nhau như ethylene và propylene. Nhiệt độ được sử dụng trong quá trình "Bẻ Khóa" này chịu trách nhiệm phần lớn đối với số lượng và loại hydrocacbon.

Sau khi quá trình này kết thúc, các hợp chất khác nhau được tạo ra sẽ được tạo thành một chuỗi. Chuỗi này được biết đến như một polyme. Tạo ra các chuỗi và polyme khác nhau cho phép các công ty nhựa tạo ra các loại nhựa có các đặc tính khác nhau. Sự khác biệt khiến chúng được sử dụng trong các ứng dụng khác nhau.

Đối với ngành công nghiệp thực phẩm, một loại polyme đặc biệt có thể đóng gói các sản phẩm nóng. Đối với các công ty sản xuất chai lọ, chai nước ngọt và hộp đựng chất thải, họ sẽ cần polyethylene terephthalate.

Cần có polyethylene mật độ cao hơn cho các loại nhựa dày hơn được sử dụng cho chai thuốc, hộp đựng phim và bình sữa. Khi gói thực phẩm như thức ăn thừa, bạn thường sẽ lấy một bọc nhựa mỏng trong suốt, được làm từ polyvinyl clorua.

Phân loại theo hiệu ứng của polyme với nhiệt độ:

    Nhựa nhiệt dẻo: Là loại nhựa mà khi nung nóng đến nhiệt độ chảy mềm thì nó chảy mềm ra. Và khi hạ nhiệt độ thì nó đóng rắn lại. Loại này thường được tổng hợp bằng phương pháp trùng hợp. Các mạch đại phân tử của nhựa nhiệt dẻo liên kết bằng các liên kết yếu (liên kết hydro, vanderwall). Tính chất cơ học không cao khi so sánh với nhựa nhiệt rắn.
    
    Nhựa nhiệt dẻo có khả năng tái sinh được nhiều lần, ví dụ như: Polyetylen (PE), polypropylen (PP), polystyren (PS), poly metyl metacrylat (PMMA), poly butadien (PB), poly etylen tere phtalat (PET),...
    Nhựa nhiệt rắn: Là một hợp chất cao phân tử có khả năng chuyển sang trạng thái không gian 3 chiều dưới tác dụng của nhiệt độ; Hoặc tác động của phản ứng hóa học.
    
    Sau đó không nóng chảy hay hòa tan trở lại được nữa, không có khả năng tái sinh. Một số loại nhựa nhiệt rắn như: Ure focmadehyt [UF], nhựa epoxy, phenol formaldehyde (PF), nhựa melamin, poly este không no...
    Vật liệu đàn hồi (elastome): Là loại nhựa có tính đàn hồi như cao su.
    
Nhựa bao bì: Đây là dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 39% giá trị sản xuất và tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam.

Phân loại theo ứng dụng:

    Nhựa thông dụng: Là loại nhựa được sử dụng số lượng lớn, giá rẻ. Được dùng nhiều trong Quy trình sản xuất nhựa như: PP, PE(HDPE), PS, PVC, PET, ABS,...
    Nhựa kỹ thuật: Là loại nhựa có chất cơ lý trội hơn so với các loại nhựa thông dụng. Thường dùng trong các mặt hàng công nghiệp, như: PC, PA,.....
    
    Nhựa chuyên dụng: Là các loại nhựa tổng hợp chỉ sử dụng riêng biệt cho từng trường hợp.

4. ỨNG DỤNG của nhựa.

Nhựa là vật liệu cực kỳ linh hoạt và lý tưởng cho một loạt các ứng dụng trong đời sống và công nghiệp. Nhựa được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực, bao gồm sản xuất bao bì, xây dựng và xây dựng, dệt may, sản phẩm tiêu dùng, giao thông vận tải, điện và điện tử và máy móc công nghiệp.

Hàng không vũ trụ


Do đó, độ nhẹ của nhựa khiến chúng trở nên vô giá đối với ngành vận tải.
Vật liệu xây dựng

Nhựa xây dựng được sử dụng ngày càng nhiều trong các ứng dụng trong ngành xây dựng. Chúng có tính linh hoạt cao và kết hợp tỷ lệ sức mạnh trên trọng lượng tuyệt vời, độ bền, hiệu quả chi phí, bảo trì thấp và chống ăn mòn làm cho nhựa trở thành một lựa chọn hấp dẫn về mặt kinh tế trong lĩnh vực xây dựng.

Sản phẩm tiêu biểu có thể kể đến đó chính là các tấm bạt che chắn công trình, lưới an toàn, lưới chắn bụi, ...

Các ứng dụng điện và điện tử

Điện năng cung cấp hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống của chúng ta, ở nhà và trong công việc, tại nơi làm việc và khi vui chơi. Và ở mọi nơi chúng ta tìm thấy điện, chúng ta cũng tìm thấy chất dẻo.
Bao bì nhựa

Nhựa là vật liệu hoàn hảo để sử dụng trong đóng gói hàng hóa. Nhựa rất linh hoạt, bền, nhẹ, linh hoạt và có độ bền cao.

Nó chiếm lượng nhựa sử dụng lớn nhất trên toàn thế giới và được sử dụng trong nhiều ứng dụng đóng gói bao gồm hộp đựng, chai lọ, thùng phuy, khay, hộp, cốc và bao bì bán hàng tự động, sản phẩm trẻ em và bao bì bảo vệ.

Sản xuất năng lượng

Tua bin gió, tấm pin mặt trời và bùng nổ sóng
Đồ nội thất

Bộ đồ giường, vải bọc và đồ nội thất gia đình, ống nước nhựa, ống nhựa PVC, ... Tiêu biểu có Ống nhựa Việt Nam là 1 nhà cung cấp ống nhựa chất lượng cao cả trong và ngoài nước.
Ngành y tế

Ống tiêm y tế và chăm sóc sức khỏe , túi bood, tubins, máy lọc máu, van tim, chân tay giả và băng vết thương

Mũ bảo hiểm quân sự , áo giáp, xe tăng, tàu chiến, máy bay và thiết bị thông tin liên lạc, ...

Về nguyên tắc thì chúng ta có thể chế tạo nhựa theo ứng dụng mong muốn bằng việc kết hợp các đặc tính của nhựa. Do các đặc tính hấp dẫn này, nhựa ngày càng được sử dụng phổ biến trong nhiều ứng dụng như:

 Nhựa Việt Nam ghi nhận doanh thu đạt 4.819 tỷ đồng, tăng 7,4%, lợi nhuận sau thuế đạt 465,3 tỷ đồng, tăng 4% so với năm 2020.

Công ty Cổ phần Nhựa thiếu niên Việt Nam (Mã chứng khoán: NTP) vừa công bố Báo cáo tài chính quý IV và 2021 với các chỉ tiêu kinh doanh khả quan.

Cụ thể, trong quý IV/2021, công ty này ghi nhận doanh thu thuần đạt hơn 1.460 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, giá vốn bán hàng tăng mạnh lên hơn 1.191 tỷ đồng, tương ứng 44,3% so với cùng kỳ năm trước nên lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm 24% xuống còn 271 tỷ đồng.

 Trong quý, chi phí tài chính tăng nhẹ lên gần 23 tỷ đồng, tương ứng 11%, chi phí quản lý doanh nghiệp đạt 39,3 tỷ đồng, tương ứng tăng hơn 30% so với quý IV/2020. Tuy nhiên, chi phí bán hàng giảm xuống còn 113 tỷ đồng, giảm 54,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung, lợi nhuận trước thuế của Nhựa Việt Nam đạt 138 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế còn 117,6 tỷ đồng, tăng 12,5 tỷ đồng so với quý IV/2020.

Lũy kế cả năm 2021, Nhựa Việt Nam ghi nhận doanh thu đạt 4.819 tỷ đồng, tăng 7,4% so với năm trước đó, lợi nhuận sau thuế đạt 465,3 tỷ đồng, tăng 4% so với năm 2020.

Năm vừa qua, Nhựa thiếu niên Việt Nam có hơn 26 tỷ đồng lãi tiền gửi, tiền cho vay, trong khi năm 2020 chỉ có hơn 1,1 tỷ đồng. Ngoài ra, công ty này nhận 5,8 tỷ đồng cổ tức từ loạt công ty, gồm: Công ty Cổ phần Bao bì Việt Nam, Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Hà Giang, Công ty Cổ phần cấp nước Thủ Dầu Một và Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước sạch Sài Gòn. Trong đó, khoản lớn nhất từ CTCP Kinh doanh nước sạch Sài Gòn với hơn 3 tỷ đồng.

Tổng tài sản của Nhựa Việt Nam tính đến hết năm 2021 đạt hơn 4.898 tỷ đồng, tăng gần 26% tương đương gần 1.000 tỷ đồng so với hồi đầu năm. Trong đó, tài sản ngắn hạn tăng 62%, lên 2.721 tỷ đồng với khoản lớn nhất là hơn 1.081 tỷ đồng hàng tồn kho, tăng hơn 400 tỷ đồng so với hồi đầu năm.

Hầu hết các hạng mục của hàng tồn kho đều tăng so với hồi đầu kỳ. Tương ứng, nợ vay công ty cũng tăng 68% so với thời điểm đầu năm lên mức hơn 2.192 tỷ đồng, trong đó, nợ vay ngắn hạn tăng hơn 75% lên 1.594 tỷ đồng và vay nợ dài hạn giảm 53% xuống còn 16,7 tỷ đồng.


Nhựa


Thanh nep giay Có 2 thanh nẹp giấy- giữ giấy chống xô lệch khi cắt- độ, Thanh nẹp giấy có kết cấu mới lạ, khả năng chịu lực cao, được phân cắt theo nhiều kích cỡ, độ dài tùy thuộc nhu cầu sử dụng & thỏa mãn yêu



Nhựa gia dụng: Chiếm khoảng 32% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm gia dụng như nội thất, tủ, đĩa, đồ chơi, và giầy dép. Các công ty trong nước chủ yếu tập trung sản xuất nhóm sản phẩm này, nhưng thường có biên lợi nhuận thấp, trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung ở phân khúc sản phẩm cao cấp, có giá trị và biên lợi nhuận cao.

Trong những năm gần đây, các sản phẩm nhựa gia dụng Việt Nam chiếm tới 90% thị phần nội địa và tập trung ở phân khúc bình dân. Tuy nhiên các công ty trong nước đang đánh giá thấp nhu cầu tiêu dùng hàng cao cấp trong nước và không có kế hoạch phát triển dòng sản phẩm cao cấp, phân khúc nhựa gia dụng cao cấp vẫn đang bị bỏ ngỏ.

Kết quả là mảng nhựa gia dụng cao cấp bị các công ty nước ngoài chiếm lĩnh với những chiến lược bài bản như: hệ thống phân phối hiện đại (hệ thống các cửa hàng bán sản phẩm kết hợp với hợp tác cùng các siêu thị, trung tâm thương mại), đầu tư công nghệ để đa dạng hóa sản phẩm nhằm đánh vào tâm lý xem trọng an toàn sức khỏe và phủ kín nhu cầu của người tiêu dùng.

Nhựa công nghệ cao: Chiếm 9% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như phụ tùng nhựa, dùng trong lắp ráp ô-tô, xe máy, thiết bị y tế và trang thiết bị dùng trong công nghiệp composite.

Đến nay toàn ngành Nhựa Việt Nam gồm khoảng hơn 2.000 công ty trải dài từ Bắc vào Nam và tập trung chủ yếu ở Tp.HCM (tại Tp.HCM chiếm hơn 84%) thuộc mọi thành phần kinh tế với hơn 99,8% là công ty tư nhân. Các công ty trong nước chiếm 85%, công ty nước ngoài tuy chỉ chiếm 15% về số lượng nhưng chiếm đến 40% về vốn đầu tư.

Chính phủ dự báo sẽ thoái vốn khỏi nhiều công ty trong nước và dự kiến nhiều công ty nước ngoài sẽ tận dụng cơ hội này để mua lại một tỷ lệ lớn cổ phần chào bán, qua đó nâng tỷ lệ vốn góp trên thị trường lên khoảng 60%.

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.

Hiện nay mỗi năm ngành Nhựa cần khoảng 4.5-5 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS, PVC… chưa kể hàng trăm loại hoá chất phụ trợ khác nhau, trong khi khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 1 triệu tấn nguyên liệu và hóa chất, phụ gia cho nhu cầu của ngành Nhựa Việt Nam.

Ngành Nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 20% nguyên liệu cũng như hóa chất phụ gia đầu vào. Nếu không sớm chủ động được nguồn nguyên liệu thì đây sẽ là một trở ngại lớn cho các công ty ngành Nhựa để có thể thực hiện sản xuất cũng như tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tham gia ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.

Tình hình xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam

Hiện tại, các sản phẩm của nhựa Việt Nam đã có mặt tại 151 thị trường trên thế giới, kể cả những thị trường đòi hỏi chất lượng cao, tiêu chuẩn kỹ thuật tối ưu như Nhật Bản, Mỹ, EU.

Xuất khẩu nhựa của Việt Nam chủ yếu đến từ nhóm những công ty FDI (chiếm 60% giá trị xuất khẩu toàn ngành), những công ty này sử dụng những công nghệ tiên tiến, đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường nước ngoài.


Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn là bao bì túi nhựa, hoặc phụ kiện, linh kiện có giá trị gia tăng thấp.

Mặc dù triển vọng xuất khẩu của ngành nhựa Việt Nam được hỗ trợ tích cực bởi các hiệp định tự do thương mại mà Việt Nam đã tham giá như FTAs, RCEP nhưng ngành nhựa Việt Nam vẫn đối mặt với những hạn chế tới từ thị trường xuất khẩu khác như xu hướng chuyển dịch sang sử dụng bao bì thân thiện với môi trường tại châu Âu ngày một lan rộng trong khi Mỹ vẫn áp thuế chống phá giá lên mặt hàng túi nhựa PE nhập từ Việt Nam.

Những hạn chế cản trở phát triển công nghiệp nhựa

Nguyên liệu đầu vào chính của ngành nhựa là các bột nhựa và hạt nhựa PE, PP, PVC, PS và PET, được sản xuất chủ yếu từ dầu-khí-than. Trong đó 75%-80% nguyên liệu và phụ liệu đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất nhựa phải nhập khẩu do nguồn cung trong nước hiện nay chỉ có thể đáp ứng khoảng 1 triệu tấn nguyên phụ liệu (chủ yếu là nhựa PVC, PET và PP), đặc biệt thiếu nguồn cung nguyên liệu nhựa tái sinh, công nghiệp hỗ trợ ngành nhựa chưa phát triển.

Chi phí cho nguyên liệu chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu chi phí của ngành nhựa. Tuy nhiên các công ty nhựa Việt Nam không thể chủ động nguồn cung cấp trong nước, phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu đầu vào. Tình trạng này dẫn đến việc các công ty nhựa phải duy trì tồn kho nguyên liệu lớn để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn.

Kéo theo đó là chi phí tài chính gia tăng, cộng thêm rủi ro về thay đổi tỷ giá và giá dầu thế giới. Hạn chế này là đặc điểm chung của cả ngành nhựa Việt Nam và khó có thể thay đổi trong vài năm tới.

Lượng lớn nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu sẽ khiến các công ty xuất khẩu sản phẩm nhựa khó tận dụng được ưu đãi thuế do những quy định liên quan đến xuất xứ hàng hóa. Bên cạnh đó, giá nhựa nguyên liệu nhập khẩu thường biến động tương ứng với thay đổi của giá dầu (nhất là thời gian vừa qua khi giá dầu tăng/giảm bất thường và khó dự báo).

Tạo nên những rủi ro về chi phí đầu vào và lỗ do chênh lệch tỷ giá USD/VND, làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các công ty nội địa. Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ chỉ mới tập trung vào một số sản phẩm nhựa, chưa có cơ chế và chính sách hỗ trợ riêng cho toàn ngành.

Các sản phẩm nhựa Việt Nam hầu hết nằm ở phân khúc tầm thấp nên các công ty quy mô nhỏ và vừa (chiếm hơn 90% trong tổng số 2.000 công ty nhựa) thường ít chú trọng đến việc đầu tư công nghệ, máy móc hiện đại. Bên cạnh đó, các công ty vừa và nhỏ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay do những hạn chế về tài sản đảm bảo, chi phí lãi vay cao…

Chỉ có một số rất ít các công ty có quy mô sản xuất lớn chịu đầu tư chuyên sâu và có những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng. Điều này khiến sức cạnh tranh của sản phẩm nhựa Việt Nam trên thị trường không lớn, đặc biệt là những sản phẩm nhựa gia dụng.

Nhựa ngày nay được để chế tạo các sản phẩm nhà cửa đời sống như bàn, ghế, vỏ máy, túi nilong, màng film và các ống nước.

Thuế nhập khẩu đối với hạt nhựa PP đã tăng từ 1 lên 3% kể từ 01/01/2017. Hiện nay, tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu mà ngành công nghiệp nhựa Việt Nam từ nước ngoài lên tới 80% tổng nhu cầu cho chất dẻo nguyên liệu.

Hạt nhựa PP là một trong hai nguyên liệu nhựa phải nhập khẩu nhiều nhất, việc tăng thuế nhập khẩu đối với hạt nhựa PP sẽ tác động không nhỏ tới chi phí đầu vào của các công ty sản xuất nhựa nói chung và đặc biệt là những công ty sản xuất nhựa bao bì có nguồn gốc PP.

Nhựa PET (Polyethylene terephthalate): được dùng trong sản xuất tơ sợi, vật đựng đồ uống các loại hộp đựng thức ăn, các loại chai nước suối, chai nước ngọt, chai nước ép và những dạng chai dùng một lần
Nhựa HDPE (Hight Density Poli Etilen): thường được dùng trong sản xuất làm các loại túi, bì nhựa, các loại ống nhựa, chai lọ, đặc tính nhựa HDPE có độ bên cao hơn các loại nhựa khác, chịu được nhiệt, không bị rỉ.

Không bị tác dụng bởi các dung dịch muối, axít và kiềm, kể cả nước mưa axít cũng không ảnh hưởng tới loại ống này. Trong một số ngành như thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm thường dùng các loại chai lọ chất liệu HDPE, ngoài ra hầu hết các loại nắp, nút chai cũng sử dụng nguyên liệu là loại nhựa này.

Nhựa PVC (poly Vinyl Clorua): phần lớn dùng bao bọc các loại dây cáp, ống nhựa thoát nước, áo mưa. Nhựa PVC có tính độc nên không được sử dụng để sản xuất bao bì thực phẩm.
Nhựa LDPE (Low-density polyethylene): được sử dụng để làm các loại bao bì, túi nhựa đựng hàng tạp hóa, giấy gói thực phẩm, các loại chai cần phải bóp_nặn. hộp đựng thực phẩm đông lạnh, túi mua sắm, túi tote, quần áo, đồ nội thất, thảm

Nhựa PP (polypropylene): Nhựa PP được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực gia dụng, Hộp sữa chua, chai đựng nước lọc, lọ đựng thuốc, chai đựng nước sirup, các loại màng chống thấm, các loại ly dùng một lần,…
Nhựa PS (Polystyrene): hay còn được gọi là xốp, thường được sử dụng trong khâu chèn lót, đóng gói bao bì, đồ cách nhiệt.

Bạn cũng thấy nhựa số 6 được sử dụng để làm các loại đĩa, tô đựng mì ăn liền, đựng đồ ăn như canh, súp, và ly dùng 1 lần, tuy nhiên loại nhựa này tiết ra tính độc khi tiếp xúc với nhiệt.

Cách dễ nhất để xác định loại nhựa.

Một số loại nhựa khác: Đó là sự kết hợp, pha trộn của các loại nhựa. Loại nhựa này cực kỳ độc hại, sản sinh ra chất BPA và hầu hết các loại bao bì chứa đựng thưc phẩm không mang hiệu số 7, hầu hết loại nhựa này được ứng dụng trong sản xuất công nghiệp.

Hiện nay nhụa đã quá phổ biến trông cuộc sống. Ví dụ khi bạn coi tivi, dùng máy pc, đi xe oto hay máy bay thì bạn đều dùng nhựa.

Hoặc khi bạn đi mua sắm đều dựa vào các túi nhựa PE để đựng sản phẩm. Vậy con người đã quá phụ thuộc vào nhựa chăng. Nhựa là gì và nhựa làm từ gì? Do đó bài viết này sẽ đi tìm hiểu tất tần tật về nhựa.

Nhựa hay còn có tên tiếng anh quen thuộc là plastic. Nó là một loại vật liệu chất dẻo vô cùng linh hoạt. Nên được dùng làm nguyên liệu của mọi vật dụng ứng dụng khác nhau.

Nhựa thông thường có tỷ trọng tương đối thấp. Nên các sản phẩm từ nhựa có tính cạnh tranh hơn về trọng lượng.

Bạn có biết loại nhựa được sản sinh ra đầu tiên mà con người tìm thấy là từ tự nhiên không? Đó chính là nhựa cao su từ các cây cao su đó.

Lịch sử về Nhựa

Lịch sử của nhựa phát triển từ những đầu năm 1800. Mục đích ban đầu là để thay thế các loại nguyên liệu quý hiếm như ngà voi và mai rùa.

Và con người đã tạo ra nhựa tổng hợp từ cellulose ( được tìm thấy trong cây và thực vật ). Bằng cách gia nhiệt vào Cellulose với các hóa chất để tạo ra 1 loại nhựa tổng hợp cực kì bền.
Thuật ngữ về “nhựa“

Plastic là một “chuỗi” các hạt phân tử được liên kết lại với nhau. Mỗi “chuỗi” được gọi là các polymers. Chính vì thế đa số các loại nhựa đa phần đều bắt đầu với từ “poly”, như là poylethylene, polypropylene.

    Từ “plastic” được dựa vào tiếng Hy Lạp “plastikos” có nghĩa là nguyên liệu có thể đúc thành sản phẩm dễ dàng. Do đó khi nhắc đến nhựa thì chúng ta liên tưởng ngay đến độ dẻo và độ đa dạng của nó.

Hiện nay thậm chí các máy in 3d đều có nguyên liệu hoàn toàn bằng nhựa để vẽ ra các sản phầm hình dạng khác nhau. Ngoài ra nhựa được sản xuất thành nhiều dạng khác nhau từ màng mỏng đến các hình dáng tấn  miếng, chai hộp ống các loại…

Ngoài ra thuật ngữ nhựa chuyên nghành rất đa dạng để tìm hiểu thêm đọc bài viết về các từ ngữ chuyên nghành nhựa tại đây.

    Hầu hết các loại nhựa đều có một mức cản nhiệt và cách điện tốt. Nhưng vẫn có một số được thay đổi để dẫn điện khi cần thiết.
Quảng Cáo